Một số vướng mắc khi xử lý tiền phạt vi phạm hành chính

07:30 | 02/07/2021

(HQ Online) - Tổng cục Hải quan đang gặp vướng mắc khi áp dụng các quy định chính sách pháp luật liên quan để xử lý tiền phạt vi phạm hành chính đối với hàng hóa XNK.

VCCI góp ý về quy định xử phạt vi phạm hành chính thuế
Một Nghị định sửa nhiều Nghị định về xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực tài chính
Gỡ vướng quy định xử phạt vi phạm hành chính về kiểm tra chuyên ngành
Một số vướng mắc khi xử lý tiền phạt vi phạm hành chính
công chức Hải quan Chi Ma (Lạng Sơn) phối hợp kiểm tra, xử lý lô hàng rượu NK có nhãn mác vi phạm chủ quyền. Ảnh: H.Nụ

Tại Điểm 8 Nghị quyết 178/NQ-CP ngày 12/12/2020 của Chính phủ quy định việc xử lý thuế đối với hàng hóa NK để sản xuất XK. Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan Hải quan hoàn trả số tiền thuế ấn định mà DN đã nộp theo quy định, không truy thu thuế đối với các trường hợp chưa nộp tiền thuế ấn định; có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để xảy ra tình trạng lợi dụng, trục lợi chính sách...

Để xử lý hoàn thuế cho DN, Hải quan tiến hành rà soát, xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các quyết định ấn định thuế trước thời điểm ban hành Nghị quyết 178/NQ-CP. Tuy nhiên, cơ quan Hải quan nhận thấy, hệ quả pháp lý là phải xem xét lại các quyết định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến các quyết định ấn định thuế bị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ.

Theo Tổng cục Hải quan, việc xem xét hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành cần phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật xử lý vi phạm hành chính về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục. Đồng thời việc xử lý này phải đảm bảo không vi phạm quy định tại Điều 22 Nghị định 19/2020/NĐ-CP ngày 12/2/2020 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm, cũng như đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc giải trình khi có các trường hợp thanh tra, kiểm tra phát sinh.

Quá trình thực hiện, theo Tổng cục Hải quan, tại khoản 2 Điều 6b Nghị định 97/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/2013/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 97) quy định một trong các trường hợp phải hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính: “Tùy thuộc vào tính chất, mức độ sai sót, người đã ban hành quyết định về xử lý vi phạm hành chính phải hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định...”.

Theo quy định trên, trường hợp phát hiện có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định thì người có thẩm quyền phải xem xét để hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định.

Do vậy, đối với trường hợp này, căn cứ vào tính chất của sự việc và các quy định hiện hành, Tổng cục Hải quan cho rằng cần căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6b Nghị định 97 để xem xét, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài ra, việc các quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành đã quá 1 năm kể từ ngày ra quyết định thì việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ trong trường hợp này có phù hợp không?

Tại Điều 6c Nghị định 97 quy định về thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính: “Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, đỉnh chỉnh, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử lý vi phạm hành chính là 1 năm, kể từ ngày ra quyết định, trừ trường hợp hết thời hiệu quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính”.

Với quy định này, việc sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính chỉ trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày ra quyết định và với điều kiện là còn thời hiệu xử phạt. Trường hợp hết thời hiệu xử phạt thì không ban hành các quyết định xử phạt mới (Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Như vậy, đối với trường hợp cơ quan Hải quan đã hủy bỏ quyết định ấn định thuế, hoàn trả tiền thuế cho DN, nhưng đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành sẽ có trường hợp xảy ra. Nếu thời điểm DN yêu cầu cơ quan Hải quan hoàn trả số tiền phạt đã nộp vào NSNN (liên quan đến quyết định ấn định thuế đã bị hủy bỏ) mà quyết định xử phạt vi phạm hành chính trước đây đã quá thời hạn 1 năm, kể từ ngày ra quyết định, đồng thời đã hết thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thì cơ quan Hải quan không thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định xử phạt đối với doanh nghiệp. Do vậy sẽ không có cơ sở để xem xét hoàn lại số tiền phạt DN đã nộp.

Cơ quan Hải quan nêu ví dụ cụ thể, DN mở tờ khai ngày 1/1/2016, đến ngày 1/1/2018 và DN bị xử phạt vi phạm về thuế, thì đến nay (tháng 6/2021) đã quá 5 năm kể từ ngày vi phạm được thực hiện (quá thời hiệu xử phạt về thuế), đồng thời đã quá 1 năm kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt (ngày 1/1/2018). Như vậy, theo quy định trên, cơ quan Hải quan không thể sửa đổi, bổ sung, đính chính hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới về xử phạt được.

Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: “3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền”.

Như vậy, trường hợp này, nếu phát hiện có sai sót thì người có thẩm quyền phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định. Đồng thời, quy định này không yêu cầu nội dung liên quan thời hạn, thời hiệu phải ban hành hành quyết định mới để sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định đã ban hành.

Trong khi đó, khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

Áp dụng trong trường hợp này, cơ quan Hải quan nhận thấy, nội dung Nghị định 97 chưa phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính thì cần áp dụng Luật Xử lý vi phạm hành chính để thực hiện. Theo đó, cơ quan Hải quan áp dụng các quy định nêu trên để quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc thay thế quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành.

Liên quan đến xử lý số tiền phạt đối với các quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị sửa đổi, bổ sung, đính chính, bãi bỏ. Điểm i khoản 5 điều 16, Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định: “Số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt người khai thuế đã nộp theo quyết định ấn định thuế nhưng quyết định ấn định thuế được sửa đổi, bổ sung, hủy hoặc số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp, cơ quan Hải quan hoàn trả cho người khai thuế số tiền chênh lệch theo quy định Điều 60 Luật Quản lý thuế”.

Điều 6 Thông tư 153/2013/TT-BTC ngày 31/10/2013 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ NSNN bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chính quy định: “Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính được hoàn trả số tiền phạt thu không đúng trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền”.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi của cá nhân, tổ chức bị xử phạt, trên cơ sở quyết định sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, quyết định mới về xử phạt vi phạm hành chính, Tổng cục Hải quan đề xuất thực hiện việc hoàn trả tiền phạt theo những nội dung quy định nêu trên.

Nụ Bùi