Sẽ tăng thuế xuất khẩu đối với nhiều mặt hàng đá?

14:19 | 22/07/2021

(HQ Online) - Bộ Tài chính vừa đề xuất sửa đổi thuế suất thuế xuất khẩu và mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng đá để bảo vệ, thúc đẩy khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo trong nước, hạn chế việc xuất khẩu tài nguyên thô, chưa qua chế biến và góp phần đơn giản biểu thuế.

Đề xuất thống nhất chung 1 mức thuế suất đối với mặt hàng vàng
Đề xuất tăng thuế xuất khẩu, giảm thuế nhập khẩu với một số mặt hàng thép
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi mức thuế xuất nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng tăng giá mạnh
Ảnh: Internet.
Các mặt hàng đá của Việt Nam hiện chủ yếu xuất sang các thị trường Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ. Ảnh: Internet.

Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đá tăng nhanh

Theo Bộ Tài chính, ngày 29/9/2020, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản. Theo đó đã giao Bộ Tài chính rà soát tổng thể chính sách tài chính về khoáng sản (thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, phí và lệ phí, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản), nhất là đối với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Từ đó đề xuất điều chỉnh chính sách tài chính phù hợp với thực tế, thúc đẩy phát triển, khuyến khích sử dụng vật liệu khác thay thế cát, sỏi lòng sông.

Đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong việc chấp hành chế độ hóa đơn, chứng từ kế toán đối với việc kinh doanh cát, sỏi lòng sông; xử lý tình trạng hợp pháp hóa, hợp thức hóa chứng từ đầu vào đối với việc sử dụng cát, sỏi lòng sông tại các công trình, dự án; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản kiểm soát chặt chẽ nguồn thu từ khoáng sản thông qua sản lượng khai thác thực tế của các tổ chức, cá nhân khai thác khoảng sản.

Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 1266/QĐ TTg ngày 18/8/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050, trong đó đã đề ra mục tiêu là xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế; hạn chế xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu là tài nguyên khoáng sản không tái tạo.

Theo Bộ Tài chính, qua rà soát mức thuế suất thuế xuất khẩu và mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN đối với các mặt hàng khoáng sản hiện nay, Bộ Tài chính trình Chính phủ điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu và mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN mặt hàng đá tự nhiên và sản phẩm làm từ đá.

Sở dĩ có đề xuất này là do theo thống kê của Tổng cục Hải quan, các mặt hàng đá của Việt Nam hiện chủ yếu xuất sang các thị trường Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ. Trong đó, các loại đá cuội, sỏi, đá đã vỡ hoặc nghiền là các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn với kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 214,5 triệu USD.

Năm 2020, do tác động của dịch Covid-19 và giá cước vận tải hàng hóa quốc tế tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đá đều giảm so với năm 2019. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đá tăng nhanh trở lại. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2021 của mặt hàng đá làm tượng đài, đá xây dựng đã gia công đạt 8,4 triệu USD, tăng 84% so với cùng kỳ; của đá hoa (marble), đá travertine đạt 7,9 triệu USD, tăng 63% so với cùng kỳ năm 2020; của đá vôi và đá có chứa canxi khác dùng để sản xuất vôi hoặc xi măng đạt 8,7 triệu USD, tăng 117,5% so với cùng kỳ.

Cần thiết điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với mặt hàng đá

HIện nay, theo quy định tại Biểu thuế xuất khẩu ban hành kèm Nghị định số 57/2020/NĐ-CP, mức thuế xuất khẩu áp dụng cho các mặt hàng đá được quy định tăng dần từ nguyên liệu thô đến thành phẩm, phù hợp với khung thuế suất thuế xuất khẩu và nguyên tắc hạn chế xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản chưa qua chế biến.

Để góp phần thực hiện Chỉ thị số 38/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hạn chế việc xuất khẩu tài nguyên khoáng sản thô, chưa được chế biến trong nước, gây lãng phí tài nguyên quốc gia, đồng thời, để tránh gian lận do việc chuyển từ mã số hàng hóa có thuế suất cao sang mã số có thuế suất thấp hơn, Bộ Tài chính cho rằng cần thiết điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu đối với mặt hàng đá và sản phẩm làm từ đá, nhất là những mặt hàng còn có dư địa để tăng mức thuế suất (mức thuế suất thuế xuất khẩu hiện hành thấp hơn đáng kể mức trần của Khung thuế suất được Quốc hội quy định).

Bộ Tài chính đề xuất, điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế xuất khẩu theo lộ trình một số chủng loại đá và sản phẩm làm từ đá để hạn chế việc xuất khẩu tài nguyên quốc gia.

Cụ thể, đối với mặt hàng đá từ nhóm 25.15 - 25.17, các mặt hàng đá đang có mức thuế suất 15% sẽ tăng lên mức 22% kể từ ngày Nghị định có hiệu lực và tăng lên mức 30% từ ngày 1/1/2023.

Với các mặt hàng đang có mức thuế suất 17% sẽ tăng lên mức 22% kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành và tăng lên mức 30% từ ngày 1/1/2023.

Đối với mặt hàng đá nhóm 25.18 (đang có mức thuế suất 10%) sẽ tăng thuế xuất khẩu lên 22% kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành và tăng lên mức 30% kể từ ngày 1/1/2023.

Đối với mặt hàng đá nhóm 25.21 (đang có mức thuế suất 17%) sẽ tăng thuế xuất khẩu lên mức 22% kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành và tăng lên mức 30% từ ngày 1/1/2023.

Đối với mặt hàng đá thuộc các nhóm 68.01-68.03 (đang có mức thuế xuất khẩu 5%) sẽ tăng thuế xuất khẩu lên 10% kể từ ngày Nghị định có hiệu lực và tăng thuế xuất khẩu lên mức 20% kể từ ngày 1/1/2023.

Bộ Tài chính cũng đề xuất điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN của một số dòng thuế để tạo điều kiện cho phân loại, áp mã, đơn giản hóa Biểu thuế.

Theo đó, quy định cùng mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN 2% đối với mặt hàng đá hoa (marble) và đá travertine thuộc nhóm 25.15, mã số 2515.12.10 và 2515.12.20 thay cho mức 2% và 3% của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành.

Đồng thời quy định cùng mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN 2% đối với mặt hàng đá granit thuộc nhóm 25.16, mã số 2516.12.10 và 2516.12.20 thay cho mức 3% và 2% của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành.

Bộ Tài chính nhận định, việc điều chỉnh giảm mức thuế suất nêu trên sẽ làm giảm thu ngân sách nhà nước không đáng kể do chủ yếu nhập khẩu từ các nước áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu FTA là 0%. Mức điều chỉnh giảm thuế suất cũng không lớn. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu của 2 nhóm trên không nhiều.

Bộ Tài chính cũng đề xuất quy định cùng mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN 12% đối với đá làm tượng đài hoặc đá xây dựng đã được gia công thuộc nhóm 68.02 thay cho mức 12% và 10% (trong nhóm này đang có 7 mã số có mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN 12%, 1 mã số có mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN 10%).

Theo phương án này thì có 1 mã hàng 6802.29.10 tăng thuế suất thuế nhập khẩu MFN từ 10% lên 12%. Do số lượng nhập khẩu không đáng kể nên việc điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế nhập khẩu MFN từ 10% lên 12% như trên trên cơ bản sẽ không ảnh hưởng đến giá nguyên liệu của các doanh nghiệp nhưng sẽ góp phần đơn giản hóa Biểu thuế, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong quá trình thực hiện.

Thùy Linh