Hoàn thiện thể chế đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp

07:12 | 13/08/2022

(HQ Online) - Những nội dung cơ bản của dự thảo Luật sửa đổi Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN (Luật 69/2014/QH13) bao gồm: đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp; cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu.

Tìm giải pháp thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chế xuất
Chủ động nguồn vốn cho phục hồi sản xuất, kinh doanh
Hoàn thiện thể chế đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
Theo dự luật, vốn nhà nước sau khi đã đầu tư vào DN được xác định là tài sản, vốn của pháp nhân DN. Ảnh: ST

Vốn nhà nước đầu tư vào DN là tài sản, vốn của pháp nhân DN

Bộ Tài chính cho biết, hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN (Luật 69/2014/QH13) đã được Bộ Tài chính gửi Bộ Tư pháp để làm thủ tục bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023 của Quốc hội.

Theo Bộ Tài chính, việc sửa đổi toàn diện, ban hành Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN mới nhằm hoàn thiện thể chế, ổn định môi trường pháp lý cho việc đầu tư vốn nhà nước vào sản xuất kinh doanh tại DN; tạo môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định cho hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước và DN; đảm bảo tôn trọng và nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DN cùng việc tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN; đảm bảo DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường trong các ngành, nghề kinh doanh theo yêu cầu của Nhà nước (chủ sở hữu).

Việc sửa đổi Luật 69 lần này cũng quán triệt đầy đủ các nội dung mang tính nguyên tắc như: quy định rõ vốn nhà nước sau khi đã đầu tư vào DN được xác định là tài sản/vốn của pháp nhân DN; DNNN tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng; nhà nước là chủ sở hữu vốn đầu tư, không can thiệp hành chính vào hoạt động và quản trị sản xuất kinh doanh của DN; cơ cấu lại, đổi mới DNNN theo cơ chế thị trường là quá trình thường xuyên, liên tục với phương thức, giải pháp thực hiện và lộ trình hợp lý; có giải pháp minh bạch hoạt động của DNNN gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của DNNN; phòng ngừa thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước, đồng thời nâng cao trình độ, năng lực quản trị, phẩm chất đạo đức để kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý DN có vốn nhà nước.

Không quản lý DN theo từng tài sản

Liên quan đến mục tiêu, nội dung đề xuất xây dựng Luật sửa đổi Luật Quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại DN, ông Phạm Văn Đức, Phó Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho biết, có 4 nhóm nội dung chính sách cơ bản bao gồm: đầu tư vốn nhà nước vào DN; cơ cấu lại vốn nhà nước tại DN; quản lý vốn nhà nước đầu tư tại DN; quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu.

Trong đó, chính sách về đầu tư vốn nhà nước vào DN tại đề nghị xây dựng luật quy định rõ vốn nhà nước sau khi đã đầu tư vào DN để thực hiện nghĩa vụ góp vốn chủ sở hữu nhà nước được xác định là tài sản, vốn của pháp nhân DN theo quy định của Bộ Luật dân sự, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tự chủ trong hoạt động của pháp nhân là DN. Nhà nước thực hiện quản lý DN theo pháp nhân DN mà mình đầu tư vốn, không quản lý DN theo từng tài sản mà chủ sở hữu góp vốn điều lệ (đã chuyển quyền sở hữu cho DN). Nhà nước xác định là một nhà đầu tư vốn, không can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động và quản trị sản xuất kinh doanh của DN mà thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu, người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại DN, người đại diện vốn để thực hiện các quyền của nhà đầu tư vốn (góp vốn) vào DN. Cơ quan đại diện chủ sở hữu và người đại diện thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quy định của Luật DN đối với DN có vốn nhà nước đầu tư. Từ những quy định nói trên, dự Luật này cũng làm rõ khái niệm vốn nhà nước và hoàn chỉnh bổ sung khái niệm vốn của DN, vốn đầu tư của chủ sở hữu (nhà nước) tại DN; quy định cụ thể phạm vi đầu tư vốn nhà nước tại DN, quy trình đầu tư vốn nhà nước vào DN, sử dụng nguồn lực thu được từ cơ cấu lại vốn nhà nước tại DN và nguồn lợi nhuận/cổ tức chia cho phần vốn nhà nước góp tại DN để đầu tư vốn vào DN theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước.

DN có vốn nhà nước đầu tư (gọi tắt là DN F1) gồm: DNNN (DN do Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ và DN do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết) và DN do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống. DN F1 thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quy định của Luật DN đối với các DN có vốn góp của mình (gọi tắt là DN F2). Nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu của DN F1 không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của DN F2. Đối với DN F2 hoạt động dưới hình thức Công ty TNHH MTV do DN F1 sở hữu 100% vốn điều lệ, Nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở của DN F1 có những quy định điều chỉnh để đảm bảo quyền và lợi ích có liên quan như quy định về quản trị DN, về phân phối lợi nhuận sau thuế, về phân cấp thẩm quyền quyết định đầu tư...

Hoài Anh