Rộng cửa xuất khẩu viên nén: “Nút thắt” ở đâu?

07:30 | 16/07/2021

(HQ Online) - Nhu cầu tiêu thụ viên nén trên thế giới ngày càng tăng cao, đặc biệt tại thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tuy nhiên, muốn tận dụng tốt cơ hội để thúc đẩy XK, ngành viên nén của Việt Nam cần nhanh chóng tháo gỡ các “nút thắt” điển hình như chất lượng sản phẩm không đồng bộ; cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các DN trong ngành…

Sữa viên nén thuộc chương 19 hoặc 21 sẽ không phải chịu thuế xuất khẩu
“Nóng” phát triển sản xuất viên nén gỗ xuất khẩu
Ngày càng nhiều DN tham gia sản xuất viên nén khiến giá XK giảm dần qua các năm. 	Ảnh: N.Thanh
Ngày càng nhiều DN tham gia sản xuất viên nén khiến giá XK giảm dần qua các năm. Ảnh: N.Thanh

Xuất khẩu đi lên, giá đi xuống

Theo báo cáo “Sản xuất và XK viên nén tại Việt Nam: Thực trạng và một số khía cạnh cần quan tâm” mà Nhóm nghiên cứu các Hiệp hội Gỗ và Forest Trends vừa công bố, Việt Nam hiện đã trở thành quốc gia sản xuất viên nén lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ.

Năm 2020, cả nước có 74 DN tham gia XK viên nén. Trong số đó, các DN XK quy mô lớn (XK trên 50.000 tấn/DN) là 17 DN; số DN có quy mô vừa (lượng xuất từ 20.000-49.000 tấn/DN) là 10 DN; còn lại là các DN có quy mô nhỏ (lượng xuất dưới 20.000 tấn/DN).

Trong giai đoạn 2013-2020, lượng viên nén XK tăng trên 18,2 lần, từ 175,5 tấn năm 2013 lên 3,2 triệu tấn năm 2020. Trị giá XK viên nén tăng 15,3 lần, từ gần 23 triệu USD năm 2013, lên 351 triệu USD năm 2020. Lượng viên nén sản xuất tại Việt Nam chỉ một lượng rất nhỏ được sử dụng để sấy gỗ, còn lại hầu hết đem XK. Đáng chú ý, giá viên nén XK giảm dần qua các năm, đối lập với xu thế tăng về lượng và trị giá XK. Nguyên nhân giá viên nén XK liên tục giảm là do ngày càng có nhiều DN tham gia vào khâu sản xuất viên nén, từ đa dạng nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm của ngành nông, lâm, ngư nghiệp.

Từ góc độ DN cụ thể, ông Nguyễn Thanh Phong, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Năng lượng sinh học Phú Tài đánh giá, về mặt giá cả có hai khía cạnh. Một số DN đã có hợp đồng trong dài hạn và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, một số DN nhìn thấy cơ hội thị trường và nhảy vào đầu tư mà chưa tìm hiểu kỹ.

“Thực tế, nguồn cung viên nén của Việt Nam đang thừa, dẫn đến tình trạng các DN thương mại của Việt Nam tự dìm giá nhau. Nếu ngồi lại với nhau được, phân chia nhau thị trường thì sẽ không bị nhà NK ép giá. Mặt khác, cần biết rằng, hai thị trường XK viên nén chính của Việt Nam là Nhật Bản và Hàn Quốc đang có quá nhiều nguồn cung để lựa chọn, nên họ sẽ sẵn sàng ép giá DN của Việt Nam. Trong ngắn hạn sẽ thực sự khó khăn. Nếu giá cả có phục hồi cũng phải từ năm 2024 trở đi, theo lộ trình sử dụng viên nén nhiên liệu của thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc”, ông Phong nói.

Gỡ “nút thắt” tạo đà xuất khẩu

Dự báo, nhu cầu tiêu thụ viên nén trên thế giới tiếp tục tăng, khoảng 250% trong thập kỷ tới, đạt con số 36 triệu tấn từ con số 14 triệu tấn năm 2017, với nhu cầu mở rộng chủ yếu tại các nước EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Điều này cho thấy, ngành sản xuất và XK viên nén của Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng trong tương lai.

Tuy nhiên, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trends cho rằng, sản xuất và XK viên nén của Việt Nam hiện tại đang tiểm ẩn một số vấn đề. Đó là, nguồn nguyên liệu đầu vào chưa được kiểm soát, dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng bộ, thậm chí sản phẩm có chất lượng kém, đẩy giá XK xuống thấp. Bên cạnh đó, mặc dù đã trở thành một trong những sản phẩm XK quan trọng, sản xuất và XK viên nén chưa nhận được sự quan tâm cần thiết của cơ quan quản lý. Hiện tại, khâu sản xuất và XK phát triển theo hướng tự phát, mạnh ai người ấy làm.

Đáng chú ý, hiện chưa có cơ chế kết nối các DN, cơ sở chế biến trong ngành, chưa có tiếng nói chung trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các DN. Tình trạng cạnh tranh về nguyên liệu đầu vào, cạnh tranh giá cả, người mua… đã và đang diễn ra giữa các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở quy mô nhỏ.

“Cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào không chỉ xảy ra với các DN cùng sản xuất viên nén mà còn xảy ra giữa các DN sản xuất mặt hàng này và các DN sản xuất các sản phẩm khác như dăm gỗ và ván ép. Nhiều tín hiệu cho thấy trong tương lai cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào sẽ diễn ra khốc liệt hơn”, ông Tô Xuân Phúc thông tin thêm.

Khẳng định xu hướng cạnh tranh nguyên liệu giữa các mặt hàng sẽ xảy ra khốc liệt, ông Phong đánh giá, với tình hình như hiện nay, các vùng nguyên liệu ở miền Trung với nguồn từ rừng trồng thì viên nén không cạnh tranh được với ngành hàng dăm. Đó là bởi, giá XK viên nén nhiên liệu sang thị trường Hàn Quốc quá thấp. Những DN nào tận thu được nguồn nguyên liệu từ chế biến gỗ thì mới XK sang Hàn Quốc. Hiện nay, phần nhiều viên nén nhiên liệu XK sang Hàn Quốc đến từ khu vực miền Nam với nguyên liệu từ nguồn gỗ phế phẩm của các DN chế biến gỗ.

“Muốn sản xuất, XK viên nén bền vững, các hạn chế nêu trên cần được giải quyết triệt để. Điều này đòi hỏi sự kết nối và hợp tác giữa các DN cùng sản xuất và XK mặt hàng này và giữa các DN này với các DN sản xuất các mặt hàng khác cùng sử dụng nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào. Các DN viên nén cũng cần thành lập cơ quan đại diện, nhằm kết nối với các cơ quan quản lý, tạo tiếng nói chung và tiếp cận với các thông tin về thị trường XK. Đây là các hoạt động cần được ưu tiên trong thời gian tới”, ông Tô Xuân Phúc bày tỏ quan điểm.

Thanh Nguyễn