Cần đẩy mạnh chuyển đổi số để tối ưu hóa sản xuất vật liệu xây dựng

16:54 | 28/09/2022

(HQ Online) - Trong những năm vừa qua, ngành sản xuất vật liệu xây dựng đã phát triển mạnh về số lượng, chất lượng và chủng loại, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển đô thị và nhà ở. Tuy nhiên, ngành sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu xanh vẫn còn những bất cập, khó khăn.

Carry Truck, tải 5 tạ chuyên trị hàng vật liệu xây dựng nặng đô
Chuyển đổi số trong ngành bất động sản: Chuyển hoá nỗi đau thành lợi nhuận
Xuất khẩu xi măng và clinker tăng gần 5 triệu tấn
Xuất khẩu xi măng có duy trì được đà tăng trong năm 2021?
Cần đẩy mạnh chuyển đổi số để tối ưu hóa sản xuất vật liệu xây dựng
Quang cảnh Hội thảo.

Chia sẻ tại Hội thảo “Xu hướng công nghệ vật liệu trong công trình xây dựng” do Bộ Xây dựng tổ chức ngày 28/9, Ths.Phạm Văn Bắc, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, trên thế giới, xu hướng phát triển các vật liệu xanh, thân thiện với môi trường đang lên ngôi.

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, định hướng đến 2050 với 6 quan điểm, trong đó quan điểm phát triển vật liệu xây dựng (VLXD) hiệu quả bền vững, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, tiếp cận, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thế giới, quản lý vật liệu và sử dụng hiệu quả tài nguyên năng lượng, nhiên liệu, hạn chế ảnh hưởng môi trường là điều quan trọng.

Theo ông Nguyễn Quang Hiệp, Phó Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng cho biết, giá trị VLXD thường thường chiếm 60% - 70% trong cơ cấu giá thành công trình xây dựng vì vậy chất lượng, giá thành VLXD quyết định rất lớn đến chất lượng và giá thành xây dựng công trình.

Theo báo cáo, hiện nay các giải pháp, các xu hướng công nghệ mới từ ngành VLXD rất nhiều và đa dạng, từ đổi mới các vật liệu truyền thống và cải thiện các tính năng sẵn có, đến việc tạo ra các tổ hợp vật liệu mới có thêm nhiều tính năng, cho đến các vật liệu mới và tính năng hoàn toàn mới. Có rất nhiều loại VLXD và hoàn thiện tiên tiến đã được đưa ra thị trường hoặc đang tiếp cận thị trường.

Mặc dù có nhiều tiềm năng lớn, nhưng các loại vật liệu mới vẫn khó thâm nhập thị trường, chưa nói đến việc đạt được sự chấp nhận rộng rãi.

Ông Lê Văn Tới, Phó chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng cho hay, năm 2016 đến 2018 lượng vật liệu xây không nung (VLXKN) được đưa vào sử dụng cũng đã được tăng thêm so với năm 2015. Tuy nhiên vẫn tồn tại một thực trạng là tỷ lệ sử dụng VLXKN loại nhẹ vẫn còn thấp so với chỉ tiêu đề ra. Từ năm 2019 lượng VLXKN được đưa vào sử dụng bị giảm dần.

Từ năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, việc tiêu thụ vật liệu xây dựng nói chung và vật liệu xây nói riêng giảm đáng kể. Nhưng điều đáng nói là tỷ lệ sử dụng VLXKN trong tổng số vật liệu xây đã bị giảm một cách nhanh chóng.

Đối chiếu với tỷ lệ sử dụng VLXKN năm 2015 và Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2020 đã được phê duyệt và Chương trình phát triển VLXKN đến năm 2030 đã được phê duyệt thì con số sử dụng thực tế còn rất xa với mục tiêu Chương trình.

Theo các chuyên gia về VLXD, ngành VLXD có được sự phát triển mạnh mẽ trong những năm qua. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành sản xuất VLXD cũng gặp phải nhiều thách thức.

Cụ thể như: tài nguyên khoáng sản ngày càng cạn kiệt, cần phải có giải pháp, công nghệ để sử dụng nguyên liệu có chất lượng thấp, tận dụng phế thải từ các ngành khác; nhiên liệu hóa thạch ngày càng khan hiếm, chi phí cho nhiên liệu, năng lượng ngày một tăng cao.

Đặc biệt, các yêu cầu về bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính tạo ra các thách thức không nhỏ khiến ngành sản xuất VLXD cần phải có thay đổi mạnh mẽ về công nghệ sản xuất.

Chia sẻ tại Hội thảo, PGS.TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 6,5 – 7% vào GDP của Việt Nam. Do quá trình phát triển kết cấu hạ tầng của nước ta vẫn tiếp tục trong vài chục năm nữa nên xây dựng và VLXD vẫn có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn tới.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm VLSD, các doanh nghiệp sản xuất VLXD cần áp dụng các thành cựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó có chuyển đổi số là yếu tố không thể coi nhẹ.

Để thực hiện chuyển đổi số, các doanh nghiệp cần thực hiện chuyển toàn bộ các thông tin, dữ liệu liên quan đến doanh nghiệp, từ khai thác mỏ, cung ứng vật tư, phụ tùng, sản xuất, logistic, bán hàng, quản lý, điều hành, công tác lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự…thành các tín hiệu số để máy tính có thể đọc được, lưu trữ, quản lý, xử lý, chuyển từ nơi này đến nơi khác thông qua kết nối internet.

Để thúc đẩy việc sản xuất và sử dụng VLXD thân thiện, ông Lê Văn Tới cho rằng, Nhà nước cần có những biện pháp hành chính cần thiết để thúc đẩy sử dụng VLXD thân thiện. Những biện pháp này cần được quy định trong văn bản pháp luật, ít nhất là trong Nghị định. Đồng thời, cần nhất quán, quyết liệt hơn, gắn trách nhiệm cho các địa phương, có kiểm tra, có khen thưởng các địa phương làm tốt, có phê bình đối với những địa phương thực hiện chưa tốt.

Về khung kỹ thuật, các cơ quan chức năng cần ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật liên quan đến sản phẩm, sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện, đặc biệt công trình xanh cần đưa ra các tiêu chí và thông số đặc thù cụ thể. Cần bổ sung chính sách để khuyến khích sử dụng công nghệ thi công tiên tiến, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động trong sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện.

Hoài Anh