Cân bằng kiểm soát lạm phát và phục hồi kinh tế

09:00 | 10/08/2022

(HQ Online) - Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, lạm phát 7 tháng đầu năm của Việt Nam tăng 2,54% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù vẫn nằm trong vòng kiểm soát nhưng áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm vẫn còn lớn, do đó cần có giải pháp hợp lý, kịp thời và thiết thực đối với cả doanh nghiệp cũng như người dân để kiểm soát lạm phát.

Theo dõi sát diễn biến giá cả để kiểm soát lạm phát
Theo dõi chặt diễn biến giá cả để kiểm soát lạm phát
Kinh tế phục hồi và bứt tốc
Cân bằng kiểm soát lạm phát và phục hồi kinh tế
Cần phải có thêm các giải pháp trọng tâm để hỗ trợ kịp thời, tránh suy giảm sản xuất trong nước, nhất là sản xuất nông nghiệp. Ảnh: N.H

Kiểm soát lạm phát vẫn là mục tiêu ưu tiên

Tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam liên tục được nâng mức dự báo, trong khi thế giới và nhiều quốc gia khác liên tục hạ mức dự báo tăng trưởng. Gần đây nhất IMF dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2022 là 7% (tăng so với mức dự báo 6% tại thời điểm 16/5/2022). Việt Nam được đánh giá cao trong xếp hạng Chính phủ tốt, đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ về chỉ số bình đẳng thu nhập và thu hút đầu tư (lần lượt tăng 33 bậc và 18 bậc so với năm 2021)

Chuyên gia kinh tế TS Lê Đăng Doanh:

Trên thị trường thế giới, các mặt hàng quốc tế sản xuất sẽ giảm ngay sau khi giá xăng giảm, vì nếu không sẽ không thể cạnh tranh được, do đó nếu hàng hoá trong nước vẫn không giảm thì sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam khi xuất khẩu. Theo đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần có những biện pháp phù hợp để giá nguyên, nhiên liệu và giá cả hàng hoá trong nước được điều chỉnh phù hợp theo giá xăng. Đây cũng là cách để Việt Nam nâng cao năng lực cho hàng hoá xuất khẩu trong nước và ổn định đời sống người dân, giúp doanh nghiệp hồi phục.

TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI):

Việc ổn định vĩ mô xuất phát từ nhiều yếu tố gồm lạm phát, hệ thống tài chính, cán cân thanh toán, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư. Với bối cảnh hiện tại, các cơ quan quản lý điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, làm sao hạn chế lạm phát nhưng không được bỏ quên nhiệm vụ hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng.

Sự linh hoạt của chính sách tiền tệ không phải siết chặt lại để bớt lạm phát mà thể hiện trong việc chuyển dịch tín dụng vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết, ví dụ như doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp xuất khẩu theo chuỗi giá trị chất lượng cao.

Sức chống chịu của nền kinh tế được đảm bảo bởi những chính sách hỗ trợ an sinh xã hội, chính sách phản ứng với những cú sốc bất thường như dịch bệnh, biến động địa chính trị.

Xuân Thảo (ghi)

Tuy nhiên, rủi ro, thách thức đối với phục hồi kinh tế còn rất lớn, nhất là giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, cộng hưởng với đà phục hồi tiêu dùng trong nước, tạo áp lực lạm phát, tăng chi phí sản xuất. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, lạm phát 7 tháng đầu năm của Việt Nam tăng 2,54% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù vẫn nằm trong vòng kiểm soát, song theo các chuyên gia kinh tế, nhiều quốc gia trên thế giới đang đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng chưa từng có do giá nguyên, nhiên liệu tăng tác động đến nhiều loại hàng hoá. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam có độ mở lên đến 200% GDP, tình trạng nhập khẩu lạm phát vào Việt Nam khó tránh khỏi, chưa kể giá nhiều loại hàng hoá thời gian qua tăng chóng mặt theo giá xăng dầu, nhưng lại chưa giảm kịp thời theo giá xăng dầu, cũng tác động đến mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% trong năm 2022.

Do đó, kiểm soát lạm phát vẫn là mục tiêu ưu tiên, cần phải có thêm các giải pháp trọng tâm để hỗ trợ kịp thời, tránh suy giảm sản xuất trong nước, nhất là sản xuất nông nghiệp, từ đó tác động dây chuyền đến nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, đời sống người dân.

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận định, thách thức của Việt Nam hiện nay là bảo đảm cân bằng giữa phục hồi kinh tế và kiểm soát lạm phát, linh hoạt điều phối giữa chính sách tài chính và tiền tệ. Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, trong đó việc thúc đẩy các gói hỗ trợ kinh tế là rất phù hợp với phát triển kinh tế số, phát triển mới bền vững. Trong đó, trọng tâm là phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở phục hồi kinh tế để kiểm soát lạm phát.

3 lý do để yên tâm về lạm phát

Đánh giá về vấn đề này, TS Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho rằng, áp lực lạm phát với kinh tế Việt Nam tới từ 5 yếu tố gồm: gia tăng về giá cả; gia tăng yếu tố bất định như chiến tranh, dịch bệnh; gia tăng rủi ro tài chính tiền tệ, rủi ro cho hệ thống ngân hàng khi nợ tư nhân và nghĩa vụ trả nợ tăng cao; gia tăng về rủi ro an ninh lương thực và an ninh năng lượng; giảm đà phục hồi tăng trưởng trên toàn cầu.

Tuy nhiên, TS Cấn Văn Lực cũng cho rằng, Việt Nam vẫn có 3 lý do để yên tâm về lạm phát những tháng cuối năm. Thứ nhất, giá xăng dầu đã có dấu hiệu “hạ nhiệt”, đỉnh lạm phát cũng được dự báo đã ở quý 2/2022. Ngoài ra, nhiều nguồn tin cho biết, năm tới, giá xăng dầu sẽ giảm khoảng 10%, theo đó các mặt hàng khác sẽ “dịu” lại. Lạm phát toàn cầu năm 2022 được dự báo bình quân khoảng 6%, nhưng sang năm 2023 chỉ còn 4,5%. Yếu tố thứ hai và thứ ba để Việt Nam yên tâm về lạm phát là Việt Nam vẫn đảm bảo tốt các vấn đề liên quan đến nguồn cung và phối hợp ngân sách tương đối tốt giữa tài khoá và tiền tệ. Đây là những yếu tố hỗ trợ tích cực để Việt Nam kiểm soát lạm phát những tháng cuối năm.

Theo TS Nguyễn Đình Cung, tại thời điểm này không nên thay đổi mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát. Đồng thời, khi ổn định kinh tế vĩ mô Việt Nam phải thực hiện tốt các chính sách vi mô, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh. Cùng với đó là mở cửa, hội nhập, tận dụng tốt các FTA.

Để kiểm soát lạm phát, tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế, ông Cấn Văn Lực cũng cho rằng, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định 153/2020/NĐ-CP sửa đổi về quy định tham gia thị trường trái phiếu của doanh nghiệp, vì nếu không ban hành nhanh thì nợ đến hạn phải trả của khối này tương đối lớn, dự kiến năm nay khoảng 123 nghìn tỷ đồng, năm 2023 khoảng 120 nghìn tỷ đồng và năm 2024 dự kiến khoảng 230 nghìn tỷ đồng, như vậy nếu các tổ chức tín dụng không cho vay vì rủi ro nợ và kiểm soát lạm phát thì sẽ có nhiều doanh nghiệp đóng cửa, điều này vô cùng nguy hiểm cho nền kinh tế.

Bên cạnh các giải pháp trên, việc đảm bảo liên tục nguồn cung hàng hoá tiêu dùng trong nước, kiểm soát giá cả các mặt hàng hoá giảm chậm so với giá xăng dầu thì việc giữ nguyên lãi suất và ổn định tỷ giá cũng cần tính đến. Đồng thời, tranh thủ cơ hội để tận dụng thu hút đầu tư và chuyển đổi số để thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững…

Xuân Thảo