Chính sách tiền tệ hiệu quả của Nhật Bản

08:58 | 04/10/2022

(HQ Online) - Đặc trưng khuôn khổ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) là việc kiểm soát đường cong lãi suất kể từ năm 2016.

Sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tài chính
Sớm ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khu vực FDI
Bộ trưởng Hồ Đức Phớc làm việc với Phái đoàn của Quỹ Tiền tệ quốc tế
Đồng yen đã bị định giá thấp quá mức vào năm 2022
Đồng yen đã bị định giá thấp quá mức vào năm 2022

Theo đó, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm được giữ ổn định ở mức khoảng 0%, đồng thời thực hiện một chính sách gọi là lãi suất âm, với mức lãi suất -0,1% được tính trên một phần nhỏ dự trữ vượt mức của các ngân hàng thương mại.

Nới lỏng số lượng lớn không còn là yếu tố chính trong chính sách tiền tệ của BOJ, ngoại trừ việc mở rộng bảng cân đối kế toán để đối phó với cuộc suy thoái do đại dịch gây ra trong giai đoạn 2020-2021. BOJ đã dừng hoặc thực hiện ngắt quãng các biện pháp điều tiết tiền tệ nhằm thu hẹp bảng cân đối kế toán, bao gồm hầu hết các hoạt động cho vay đối với các ngân hàng thương mại, tín phiếu kho bạc, quỹ giao dịch chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp.

Tháng 7/2018, BOJ đã điều chỉnh linh hoạt mục tiêu lãi suất trái phiếu 10 năm bằng cách đưa ra tỷ lệ lãi lên xuống trong khoảng 0,2%. Tới tháng 3/2021, BOJ tiếp tục tăng cường tính linh hoạt cho lãi suất khi thông báo cho phép tăng lãi suất 10 năm từ 0 lên đến 0,25%. Trong bối cảnh Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) dẫn đầu xu hướng thắt chặt tiền tệ toàn cầu, tỷ lệ lạm phát hiện tại của Nhật Bản cho phép BOJ mở rộng phạm vi mục tiêu hơn nữa.

Kể từ tháng 4/2022, lạm phát tại Nhật Bản đã vượt quá mục tiêu ổn định 2% của BOJ, đạt 3% vào tháng 8/2022. Nhưng BOJ dường như quyết tâm duy trì hiện trạng. Thống đốc BOJ Haruhiko Kuroda nhấn mạnh tỷ lệ lạm phát cao chủ yếu là do giá hàng hóa toàn cầu, không phải do nhu cầu trong nước tăng.

Đồng yen đã bị định giá thấp quá mức vào năm 2022 do khoảng cách lãi suất kỳ hạn 10 năm giữa Mỹ và Nhật Bản ngày càng tăng. BOJ đã bảo vệ mức trần của mình bằng cách mua vào số trái phiếu trị giá hơn 16.000 tỉ yen (114 tỷ USD) vào tháng 6/2022. BOJ quan ngại sẽ giống như Australia và Hàn Quốc, việc tăng lãi suất cơ bản theo Mỹ cũng sẽ làm tăng lãi suất 10 năm giữa 3 quốc gia, nhưng không có khả năng ngăn chặn đồng yen mất giá.

Ngược lại với Nhật Bản, lạm phát ở Hàn Quốc cao hơn nhiều và đã vượt quá mục tiêu trung hạn 2% của ngân hàng trung ương đặt ra vào năm 2021. Tỷ lệ lạm phát là 5,7% vào tháng 8/2022 mặc dù đã giảm vừa phải từ 6,3% tháng trước đó.

Tháng 8/2021, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) đã bắt đầu tăng lãi suất cơ bản từ 0,5% lên 0,75%, và kể từ đó đã tăng lãi suất thêm 6 lần lên mức 2,5%. Lập trường chính sách tiền tệ của BOK phản ánh nhu cầu kiềm chế lạm phát cao và tránh bất kỳ sự giảm giá nào nữa của đồng won Hàn Quốc so với USD.

Giống như Hàn Quốc, Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 5/2022. Năm 2010, RBA đã lần đầu tiên tăng lãi suất cơ bản từ 0,1 lên 0,3%. Kể từ đó, RBA đã tăng lãi suất cơ bản 4 lần và đạt 2,35% vào tháng 8/2022. Trong khi RBA chậm nâng lãi suất cơ bản mặc dù lạm phát đã vượt quá phạm vi mục tiêu 2-3% vào tháng 6/2021, tốc độ tăng lãi suất của RBA vẫn nhanh hơn nhiều so với BOK.

Với dự báo lạm phát tăng cao, hai ngân hàng trung ương này có khả năng sẽ sớm tiếp tục tăng lãi suất cơ bản. Ngày 21/9 vừa qua, FED đã tăng lãi suất quỹ liên bang thêm 75 điểm cơ bản lên 3-3,25%.

BOJ đang thực hiện một cách tiếp cận khác với BOK và RBA mặc dù đồng yen đang được định giá quá thấp. Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia đều đang trải qua việc đồng tiền nội địa mất giá so với USD và lạm phát cao hơn do giá nhập khẩu tăng. Việc tăng lãi suất cơ bản đã không ngăn chặn sự sụt giảm tỷ giá hối đoái ở Hàn Quốc và Australia, vì vậy việc BOJ duy trì hiện trạng có thể là hợp lý chừng nào lạm phát của Nhật Bản vẫn ở mức khoảng 3%.

Nhất Phong